Chuyển đến nội dung chính

Thuế Giá trị gia tăng trang thiết bị y tế 5 hay 10 Doanh nghiệp hỏi Hải quan Hà Nội trả lời

Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan KCN Bắc Thăng Long. Ảnh: N.Linh
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan KCN Bắc Thăng Long. Ảnh: N.Linh

Trả lời về thuế GTGT trang thiết bị y tế

Công ty CP Tập đoàn Dược phẩm & Thương mại Sohaco phản ánh: thiết bị y tế sẽ được áp thuế GTGT 5% nếu được Bộ Y tế xác nhận là trang thiết bị y tế, trường hợp không được Bộ Y tế xác nhận là trang thiết bị y tế kể cả trường hợp Cục Trang thiết bị y tế có tiếp nhận hồ sơ đăng ký và xác nhận thì cũng không được hưởng thuế GTGT là 5%. Hai sản phẩm này DN đang nhập một cái chịu GTGT là 5%, một cái chịu GTGT là 10% là không hợp lí.

Trả lời vướng mắc của DN, Cục Hải quan Hà Nội cho biết: Căn cứ khoản 8 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính có quy định: “Thiết bị, dụng cụ y tế gồm máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế như: các loại máy soi, chiếu, chụp dùng để khám, chữa bệnh, các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng để mổ, điều trị vết thương, ô tô cứu thương; dụng cụ đo huyết áp, tim, mạch, dụng cụ truyền máu; bơm kim tiêm; dụng cụ phòng tránh thai và các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho y tế khác theo xác nhận của Bộ Y tế.

Bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, trừ thực phẩm chức năng; vác xin; sinh phẩm y tế, nước cất để pha chế thuốc tiêm, dịch truyền; mũ, quần áo, khẩu trang, săng mổ, bao tay, bao chi dưới, bao giày, khăn, găng tay chuyên dùng cho y tế, túi đặt ngực và chất làm đầy da (không bao gồm mỹ phẩm); vật tư hóa chất xét nghiệm, diệt khuẩn dùng trong y tế theo xác nhận của Bộ Y tế” thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT là 5%. Căn cứ công văn số 743/BTC-TCHQ ngày 17/1/2017 của Bộ Tài chính về việc xác nhận thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho y tế thì: “Theo đó, thiết bị dụng cụ chuyên dùng trong y tế NK không được nêu tên cụ thể tại Khoản 8, Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Khoản 5, điều 4 Thông tư 83/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính, các mặt hàng không thuộc Danh mục trang thiết bị y tế được NK theo giấy phép của Bộ Y tế ban hành thèm theo Thông tư 24/2011/TT-BYT của Bộ Y tế thì phải có xác nhận của Bộ Y tế để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 5%. Các thiết bị, dụng cụ y tế khác (không có tên cụ thể nêu tại Khoản 8, Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Khoản 5, Điều 4 Thông tư 83/2014/TT-BTC, không thuộc Danh mục trang thiết bị y tế NK theo giấy phép của Bộ Y tế ban hành kèm theo Thông tư 24/2011) nhưng là mặt hàng có xác nhận của Bộ Y tế thì áp dụng mức thuế suất GTGT 5% theo quy định tại Khoản 8, Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC. Trường hợp không có xác nhận của Bộ Y tế thì áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 10%”.

Từ các căn cứ trên thì các thiết bị dụng cụ y tế được nêu cụ thể tại Khoản 8, Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và Khoản 5, điều 4 Thông tư 83/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính được hưởng thuế suất thuế GTGT 5%. Các thiết bị dụng cụ y tế khác, không nêu cụ thể thì phải có xác nhận của Bộ Y tế để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 5%. Trường hợp không có xác nhận của Bộ Y tế thì áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 10%. Theo Cục Hải quan Hà Nội về vấn đề mà DN đề nghị, cơ quan Hải quan sẽ báo cáo và đề nghị các cấp có thẩm quyền để xem xét sửa đổi chính sách cho hợp lý và tạo thuận lợi tối đa cho các DN.

Tháo gỡ các vấn đề về DNCX

Liên quan đến vấn đề thủ tục đối với DNCX, Công ty TNHH Yusen Logistics Việt Nam hỏi: nhà thầu của DNCX nhập khẩu hàng hóa theo hợp đồng thầu để xây dựng nhà xưởng cho DNCX và đưa thẳng hàng hóa đó từ cửa khẩu nhập về DNCX thì nhà thầu có phải kê khai, tính thuế nhập khẩu và thuế GTGT khi đăng ký tờ khai nhập khẩu hay không?

Trả lời vấn đề của Công ty TNHH Yusen Logistics Việt Nam, Cục Hải quan Hà Nội cho biết vấn đề này đã được Tổng cục Hải quan trả lời DN khác trước đó. Cụ thể, về thuế nhập khẩu, căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật thuế XNK số 107/2016/QH13 thì: hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Căn cứ khoản 4 Điều 2 Luật thuế XNK số 107/2016/QH13 thì: hàng hóa xuất khẩu từ khu phi thuế quan ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa chuyển từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác không thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty khi nhập khẩu hàng hóa để xây dựng nhà xưởng cho DN chế xuất được vận chuyển thẳng vào DN chế xuất thì không phải kê khai, nộp thuế nhập khẩu.

Liên quan đến thuế GTGT, căn cứ khoản 20 Điều 5 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12; khoản 20 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định hàng hóa mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Như vậy, trường hợp công ty là DN trong khu phi thuế quan khi nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào khu phi thuế quan thì hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Trường hợp công ty là DN nội địa, khi nhập khẩu hàng hóa để xây dựng nhà xưởng cho DNCX thì phải kê khai, nộp thuế GTGT, khi xuất khẩu hàng hóa vào DN chế xuất được áp dụng thuế GTGT 0% và được kê khai, khấu trừ, hoàn thuế theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính. Việc kê khai, khấu trừ, hoàn thuế GTGT công ty liên hệ với cơ quan thuế nội địa để được hướng dẫn thực hiện.

Cũng là vấn đề của DNCX, Công ty Meiko Vietnam đặt câu hỏi, đối với dự án mở rộng, Meiko Vietnam có phải thực hiện thủ tục gì tại cơ quan Hải quan hay không? Nếu có, Meiko Vietnam phải thực hiện thủ tục trước hay sau khi đầu tư, xây dựng nhà xưởng mới?

Trả lời câu hỏi của DN, Cục Hải quan Hà Nội cho biết: theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 82/2018, cơ quan đăng ký đầu tư có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan Hải quan có thẩm quyền về khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc xác nhận bằng văn bản cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, nghị định không nêu rõ nội hàm “khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan” là gì? Dẫn đến, vướng mắc trên thực tế đối với các DN được thành lập kể từ khi Nghị định số 82/2018 có hiệu lực.

Hiện nay, Tổng cục Hải quan đã có công văn hướng dẫn tạm thời về điều kiện kiểm tra giám sát hải quan khi thành lập DNCX tại Công văn số 3778/TCHQ-GSQL ngày 9/6/2020. Theo đó, khả năng đáp ứng điều kiện kiểm tra giám sát bao gồm: Tường rào cứng bao quan, ngăn cách với khu vực bên ngoài; Hệ thống camera giám sát hiển thị rõ hình ảnh hàng hóa đi vào, đi ra của DN. Hình ảnh quan sát được 24/24 giờ, dữ liệu hình ảnh được lưu giữ tại DN tối thiểu 12 tháng. Hệ thống này kết nối trực tiếp với cơ quan Hải quan. Hệ thống quản lý nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu có thể kết xuất được số liệu Xuất Nhập Tồn nguyên liệu, vật tư và sản phẩm để báo cáo quyết toán tình hình sử dụng với cơ quan Hải quan.

Bên cạnh đó, nội dung vướng mắc này đã được đưa vào Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 134/2016/NĐ-CP. Bổ sung Điều 42a quy định về kiểm tra điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với DN chế xuất.



source https://haiquanonline.com.vn/thue-gia-tri-gia-tang-trang-thiet-bi-y-te-5-hay-10-doanh-nghiep-hoi-hai-quan-ha-noi-tra-loi-137455.html

Bài đăng phổ biến từ blog này

3272/QĐ-TCHQ ngày 24/11/2020: Quy định kiểm tra hàng hóa XK, NK bằng máy soi container

6505/TCHQ-GSQL ngày 07/10/2020: Thái Lan thông báo cấp C/O mẫu D sử dụng con dấu và chữ ký điện tử

 

34/BYT-QLD ngày 05/01/2021: Quy định về Phiếu kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc